Để trả lời câu hỏi: “BẮC KINH SẴN SÀNG LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI?”

Posted on Tháng Tư 28, 2011

16


Đó là câu hỏi: “IS BEIJING READY FOR GLOBAL LEADERSHIP?” của ông Evan S. Mederios – Giám đốc các sự vụ Trung Cộng – Đài Loan – Mông Cổ – tại Hội đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ – viết trong bài tiểu luận đăng trong Current History – A journal of Contemporary, số đặc biệt China and East Asia, xuất bản tại Hoa Kỳ vào tháng 6/ 2009.

Nhân loại đang ở vào thế kỷ thứ XXI. Kỷ thuật về tin học đang toàn cầu hóa về mọi mặt: Xã hội toàn cầu hóa (Global society), Kinh tế toàn cầu hóa (Global economy),   Văn hóa toàn cầu (Global culture), Lãnh đạo thế giới (Global leadership)… Dư luận của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đặc biệt là VNCS hồ hởi phấn khởi về thế lực đang lên của Trung Cộng và sẽ trở thành SIÊU CƯỜNG thay thế địa vị của Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới trong tương lai.

I. THẾ NÀO LÀ MỘT SIÊU CƯỜNG?

Đó là một quốc gia hùng mạnh phải mang lại cho nhân dân có đời sống tự do – dân chủ – hạnh phúc và giúp các quốc gia khác trên hành tinh nầy, tranh đấu giải trừ các chế độ độc tài toàn trị, các chế độ thực dân mới đang thành hình áp bức, bốc lột tàn nhẫn người dân thuộc địa và bản xứ.  Công dân xứ sở đó có thể tự hào và đồng lòng tranh đấu vươn lên với mục đích thịnh vượng chung cho đất nước và hòa bình cho nhân loại. Nhà nước đó phải đủ sức chăm sóc những kẻ khốn cùng, những người già không còn sức lao động trong xã hội…Siêu cường trong ý nghĩa giản dị là quốc gia mạnh vượt trội (dominating) có khả năng can thiệp nhiều khu vực cùng một lúc, có uy tín ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác, cũng như có đủ khả năng xoay chuyển cục diện thế giới. Thí dụ: Hoa Kỳ & Đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandy vào tháng 6/ 1944 giải phóng nước Pháp và Âu Châu. Hoa Kỳ & Đồng Minh đổ bộ vào vịnh Inchon, gần Soul vào tháng 6/1950 giúp quân đội Nam Hàn chuyển bại thành thắng. Tháng 2/1991, Tướng Powell và Schwarzkopp chỉ huy quân đội Hoa Kỳ & Đồng Minh trong cuộc hành quân “Operation Desert Storm” giải phóng Kuwait sau 7 tháng bị Iraq thống trị…

Quốc gia nào có đủ tiêu chuẩn để trở thành một siêu cường trong hiện tại và tương lai: Hoa Kỳ hay Trung Cộng? Ngoài ra, còn có nhiều phương cách để so sánh và đánh giá trên mọi lãnh vực như chế độ chánh trị nào ưu việt, thành tựu về khoa học kỷ thuật, giáo dục, quân sự, kinh tế…và nhất là trách nhiệm quốc gia đó đối với cộng đồng thế giới. Một quốc gia gọi là siêu cường không thể giữ thái độ: “Cháy nhà hàng xóm mà bình chân như vại”. Trên thế giới, bất cứ nơi nào có thiên tai, bão lụt, động đất, sóng thần, hỏa hoạn…đều có mặt các phái đoàn nhân đạo của Hoa Kỳ sốt sắng đem sức người, tặng phẩm đến tham gia cứu trợ như ở Thái Lan và Indonesia sau cơn đại hồng thủy Tsanami, trận động đất kinh hoàng ở Haiti, trận lụt thế kỷ ở Pakistan, vụ cháy rừng ở Nga và mới đây trận động và sóng thần kinh hoàng ở Nhật Bản, Hoa Kỳ được cả thế giới ngưỡng mộ. Ngược lại, Trung Cộng luôn luôn thoái thác trách nhiệm của mình vì không muốn tốn kém.

II. TÁC PHONG CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỦA SIÊU CƯỜNG PHẢI NHƯ THẾ NÀO?

Trước tiên, phải nhìn phong cách người lãnh đạo quốc gia đó. Những lời tuyên bố của vị nguyên thủ Hoa Kỳ hoặc người đại diện quốc gia đó rất có trọng lực, được cả thế giới lắng nghe vì nó có ảnh hưởng đến cục diện toàn cầu. Xin đơn cử thí dụ giữa Tổng thống Hoa Kỳ và lãnh đạo Trung Cộng để chúng ta so sánh:

TỔNG THỐNG HOA KỲ: 

Năm 1987, khi Tổng thống REGAN đến thăm bức tường ô nhục Bá Linh do cộng sản dựng nên, chia cắt 2 miền Đông, Tây Đức. Ông đứng trước cửa ngỏ duy nhất ở bức tường, có lính canh chặc chẻ. Tổng thống Regan đã tuyên bố trên TVvà những lời nói nầy đã được ghi vào lịch sử thế giới: “Tổng bí Thư GORBACHEV, nếu ông muốn có hòa bình, nếu ông muốn có thịnh vượng cho Liên Xô , nếu ông muốn có sự giải phóng thì hãy đến cánh cửa nầy mở nó ra. Ông Gorbachev, hãy kéo sập bức ttường nầy xuống!” Và ngày 9/11 /1989, trước áp lực của những người biểu tình ôn hòa đòi dân chủ, Đông Đức phải phá sập bức tường ô nhục đó, rồi đến ngày 3/10 /1990 nước Đức thống nhất kéo theo sự sụp đổ khối cộng sản Đông Âu và đế quốc Liên Xô. Lời nói của Tổng thống Regan, vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ có sức mạnh như một quả bom tấn.

Trong cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai Hoa Kỳ – Asean vào ngày 24/ 9/ 2010 tại New York lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Hillary Clinton đã đưa ra quan điểm công khai, ủng hộ Hiệp Hội các quốc gia ASEAN, trong việc tìm kiếm giải pháp HÒA BÌNH cho việc tranh chấp Biển Đông với Trung Cộng, tên bành trướng bá quyền côn đồ, hiếu chiến, bạo ngược… thông qua chánh sách ngoại giao ĐA PHƯƠNG và xem Biển Đông như một KHU VỰC HÀNG HẢI CHUNG. Điều nầy đã chứng tỏ Hoa Kỳ đã xây dựng thành công một tam giác chiến lược mới tại Á Châu để chống chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Trung Cộng : HOA KỲ – KHỐI ASEAN – BẮC Á CHÂU. Riêng tại Nam Á, sự trổi dậy của ẤN ĐỘ là một đối trọng đáng gờm của Trung Cộng ở sườn phía Tây, không thể xem thường. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ ROBERT GATES bình luận rằng: “Hoa Kỳ sẽ hoàn thành các bổn phận liên minh của chúng ta”, làm Nhật Bản hài lòng sau “sự cố” một tàu đánh cá của Trung Cộng cố ý đâm vào tàu tuần tra của lực lượng phòng vệ biển của Nhật Bản tại quần đảo Senkaku, còn ngang ngược đòi Nhật Bản phải xin lổi.     

LÃNH ĐẠO TRUNG CỘNG:

Còn những tên lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Hoa thì sao? Xin đơn cử GIANG TRẠCH DÂN – cựu lãnh đạo ĐCSTQ – và HỒ CẨM ĐÀO hiện nay đã phạm tội ác chống nhân loại như thế nào?:

•           Ngày 28/6/ 2005. Tòa án Madrid Tây Ban Nha đã nhận được đơn thưa Giang Trạch Dân, Lý Bằng cùng với 5 tên lãnh tụ Trung Cộng phạm tội ác chống nhân loại đối với dân Tây Tạng. Đây là công trình nghiên cứu của bác sĩ José Elias Esteve suốt 8 năm trời và đơn khiếu tố đã được Ủy Ban Yểm Dân Tộc Tây Tạng (Comite de Apoyo al TIBET) đệ trình. (xin quý vị xem lại bài II)

•           Ngày 17/12/ 2009, Thẩm phán ARAOZ DE LAMADRID, người Argentina, ông đã đưa ra một trát lệnh quốc gia và quốc tế đòi bắt giữ Giang Trạch Dân và La Cán – cựu giám đốc Phòng 610 – một cơ quan nằm ngoài luật pháp để lãnh đạo và phối hợp chiến dịch đàn áp dã man Pháp Luân Công. Trát lệnh truy tầm và được thi hành bởi Phòng Cảnh Sát Quốc Tế (Interpol) thuộc Cảnh sát Liên bang Argentina. Sự kiện nầy theo sau một phán quyết tương tự tại Tây Ban Nha vào tháng trước, nơi mà 5 nhân vật lãnh đạo CS cao cấp bị Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha truy tố vì vai trò của họ trong những cuộc đàn áp đẫm máu Pháp Luân Công.

Còn HỒ CẨM ĐÀO? Trước khi trở thành lãnh đạo Đảng CS Trung Hoa đã là một tên bạo chúa khát máu và tàn bạo trong thời gian giữ chức vụ Bí Thư Đảng điều hành khu tự trị Tây Tạng. Hồ Cẩm Đào rất có nhiều kinh nghiệm chỉ huy các lực lượng vũ trang an ninh Trung Cộng đàn áp đẫm máu các cuộc nỗi dậy của dân Tây Tạng và Tân Cương trước đây.

III. QUAN ĐIỂM VỀ NỀN DÂN CHỦ GIỮA HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG:

HOA KỲ:

Hiện tại, chúng ta có thể nhìn thấy một cách tổng quát quan điểm DÂN CHỦ của Hoa Kỳ theo hai cách nhìn:

•           VỀ HÌNH THỨC (formalist concept): Một mô hình chánh trị được xem như có một nền dân chủ bền vững vì nó bảo đảm sự hiện của các đảng phái chánh trị như “Dân Chủ” “Cộng Hòa” kể cả “CỘNG SẢN”… và tổ chức các cuộc bầu cử định kỳ theo lịch trình ấn định để nhân dân bầu người đại diện vào Nhà Trắng, Thượng viện, Hạ viện, Thống đốc tiểu bang…dân chúng Hoa Kỳ có quyền quyết định lựa chọn thể chế chánh trị bằng lá phiếu của mình.

•           VỀ NỘI DUNG (substantivist concept) chú trọng đến những vấn đề thực tiễn hơn như: đánh giá kết quả của các cuộc bầu cử, có phản ảnh trung thực ý muốn của cử tri? Đảng phái có thật sự đại diện cử tri đoàn không? Đảng chính trị và nhân vật đắc cử có chân thành và nghiêm chỉnh hành động theo sự ủy nhiệm của dân chúng hay không? Có giữ lời hứa hẹn với cử tri trong khi vận động  tranh cử không? Đây cũng là quan điểm thịnh hành hàng đầu trong chính giới Hoa Kỳ và các chuyên gia về tổ chức chính quyền và phát triển quốc gia: nền “Dân Chủ” chỉ có thể phát triển trên căn bản của một nền kinh tế và xã hội mở mang  hay nói cách khác: “No democracy without development” (không có dân chủ không có phát triển).

•           Bất cứ chế độ cầm quyền nào muốn nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả vào tiến trình dân chủ thì điều kiện tiên quyết phải bảo đảm phúc lợi của người dân với mức sống tối thiểu và phải quyết nạn thất học đến tận gốc rễ (điều kiện nầy hoàn đi ngược lại với chánh sách của Đảng và Nhà nước CSVN: “NGU DÂN DỄ TRỊ!”.

•           Nói tóm lại, nền dân chủ tại Hoa Kỳ là một chế độ TỰ DO – DÂN CHỦ thực sự mà trong đó tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người ghi trong bản BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN và đã được ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC chấp thuận vào ngày 10 tháng 2 năm 1948 như: quyền tự do sinh sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do chính trị, tự do hội họp, tự do tư hữu…

•           Nền dân chủ Hoa Kỳ là nền DÂN CHỦ PHÁP TRỊ với Hành Pháp – Lập Pháp – Tư Pháp để cân bằng quyền lực nhằm mục đích phục vụ con người. 

Theo BARBARA CONROY, người có khuynh hướng cấp tiến. Bà đặt câu hỏi: “Ai quyết định đòi sống chúng ta?”. Trong xã hội dân sự (civil society) người dân tự quyết định lấy. Nhưng, trong xã hội chính trị (political society) người khác có quyền quyết định và buộc ta phải tuân theo mệnh lệnh của họ và đó là quan điểm căn bản của chánh quyền độc tài toàn trị là dùng “BẠO LỰC” và bạo lực thường đưa đến chỗ bất công, kẻ mạnh đàn áp bốc lột kẻ yếu. Vì vậy, bà Conroy chủ trương “TẢN QUYỀN”. Một xã hội tốt đẹp, trong đó cá nhân dược tự do quyết định hành vi của chính mình và nó sẽ tốt đẹp hơn một xã hội trong đó con người hành động dưới sự đe dọa thường xuyên của bạo lực như hiện nay tại các nước độc tài. (Bà ám chỉ đến các nước theo chế độ cộng sản).

TRUNG CỘNG:

Quan điểm “Dân Chủ” của giới lãnh đạo Bắc Kinh vẫn là DÂN CHỦ TẬP TRUNG một di sản lỗi thời của Mao Trạch Đông phát xuất từ “BẠO LỰC”. Mao đã từng nói: “Chính trị từ họng súng mà ra”. Họng súng là biểu tượng của bạo lực để củng cố và bảo vệ chính quyền vì chính quyền đó không phát xuất từ ý nguyện của nhân dân, không do dân bầu ra người lãnh đạo quốc gia và đảng phái chính trị, đó là “CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ”. Dưới chế độ Cộng Sản độc tài vì nó độc đảng, kinh tế tập trung, bãi bỏ quyền tư hữu và chà đạp mọi quyền tự do căn bản của con người đã ghi trong bản QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN. Chế độ cộng sản tại Trung Hoa Lục Địa là chế độ độc tài toàn trị như độc tài phát xít HITLER ở Đức và Mussolini ở Ý.

Mới đây vào ngày 21/9/ 2010, ông KAREL DE GUCHT – Uûy viên Thương mại EU – tuyên bố tại Quốc Hội Âu Châu ở Strassbourg: “Âu Châu sẽ áp lực Trung Cộng cải thiện Nhân Quyền cùng với nhu cầu mở rộng thị trường trong phiên họp cấp cao ở Brussels,” ông nhấn mạnh. “Mặc dù có nhiều khác biệt rõ rệt, nhưng điều quan trọng là chúng tôi thảo luận về lãnh vực NHÂN QUYỀN và PHÁP QUYỀN trong kỳ hội nghị nầy.” Hội nghị cao cấp nầy được tổ chức vào ngày 6/10/ 2010 quy tụ 27 nước thành viên EU và phái đoàn Trung Cộng sẽ do Thủ tướng Ôn Gia Bảo lãnh đạo.

Năm 1951, Bà HANNAH ARENDT – người Đức gốc Do Thái – phải chạy trốn Hitler trốn sang Hoa Kỳ năm 1930, đã xuất bản quyền sách LE SYSTÈME TOTALITAIRE (Hệ thống toàn trị) đã nêu lên những điểm khác biệt giữa chế độ độc tài toàn trị Cộng sản và độc tài Phát xít như sau:

•           Độc tài Phát Xít (la tyrannie):  mà chúng ta đã biết, đó là chế độ độc tài thường chỉ có trong lãnh vực chánh trị.

•           Chế độ độc tài toàn trị (dictature totalitaire hay totaliarisme): đó là chế độ độc tài toàn trị cộng sản nó bao trùm trên mọi lãnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội…  trên căn bản ý thức hệ Marx – Lénine. Và dùng tà thuyết nầy để biện minh cho hành động đàn áp nhân dân bằng bạo lực. Lenine đã nói thẳng: “Ở nơi nào có “Tự do” thì nơi đó không thể có nhà nước cộng sản”.

Theo ông Massimo d’ Aléma – cựu thủ lãnh đảng Cộng sản Ý – nói: “Chế độ công sản đã biến thành một sức mạnh đàn áp, một chế độ độc tài toàn trị, gây nên những tội sát nhân khủng khiếp nhất”

Theo Carl Friedrich và B. Brzezinski viết trong quyển “Totalitarian Dictatorship and Autocracy” đã đưa ra 6 đặc điểm của chế độ độc tài toàn trị cộng sản như sau:

•           Một ý thức hệ nhà nước bắt buộc (une idéologie de l’ Etat obligatoire).

•           Độc đảng có nhiệm vụ quản chế dân (Parti unique avec le but d’ encadrer la masse).

•           Độc quyền bạo lực (Monopole de violence).

•           Độc quyền về những phương tiện truyền thông (Monopole des moyens de communication).

•           Khủng bố dân chúng (Terreur de masse).

•           Kinh tế tập trung trong tay nhà nước (Economie centralisée).

IV. ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA CHỦ NGHĨA ĐỘC TÀI PHÁT XÍT ĐỨC VÀ  CHỦ NGHĨA ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ TRUNG HOA:

PHÁT XÍT ĐỨC: 

Nhấn mạnh đến CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN cho rằng dòng giống Aryen của dân tộc Đức là một dân tộc “THƯỢNG ĐẲNG” ưu việt, khinh khi mọi dân tộc khác trên quả địa cầu nầy nhất là dân tộc Do Thái. Theo Hitler thì dòng giống Aryen là dòng giống tinh khiết, trong sáng nhất và thông minh nhất. Thanh niên lúc bấy giờ nhìn thấy ở Hitler sức mạnh thượng đế qua những cuộc diễn binh hào nhoáng. Hitler vận dụng thiên tài hùng biện trong những cuộc hội họp, meeting gây cho thanh niên một ấn tượng lòng tin mãnh liệt dân tộc Đức thượng đẳng của nhân loại có quyền sinh sát các dân tộc khác, đi đến chỗ thảm sát 6 triệu dân Do Thái và gây chiến khắp nơi làm bùng nổ THẾ CHIẾN THỨ II làm cho 50 triệu nạn nhân chết vì bom đạn. Đây là một vết nhơ trong lịch sử của dân tộc Đức.

TRUNG CỘNG:

Điểm tương đồng với Phát Xít Đức là CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỰC ĐOAN. Với tinh thần tự tôn dân tộc từ ngàn xưa, người Trung Hoa có ảo tưởng rằng Hán tộc là cái rốn của vũ trụ, chịu thiên mệnh để làm bá chủ nhân loại, mà thực ra Hán Tộc chỉ là một dân tộc “HẠ ĐẲNG”. Mặc dầu, Trung Hoa với lãnh thổ mênh mông với diện tích khoảng 9.560.734 km2 lớn thứ ba trên thế giới sau Liên bang Nga và Canada. Năm 1949, Mao Trạch Đông sau khi thống nhất Trung Hoa Lục Địa lúc nào cũng nuôi tham vọng bành trướng lãnh thổ, dùng vũ lực để xâm lăng các dân tộc láng giềng như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Thanh sáp nhập vào Trung Hoa Lục Địa và dùng vũ lực lấn chiếm lãnh thổ dọc biên giới giới Ấn Độ và Liên Xô…những tên kế tục sự nghiệp của Mao hiện nay như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo muốn làm bá chủ Biển Đông, cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta, thò tay vào Tây Nguyên qua các dự án khai thác Bauxite, áp lực bọn lãnh đạo Hà Nội dâng nốt rừng đầu nguồn của nước ta cho Trung Cộng bằng những hợp đồng cho thuê dài hạn với giá rẻ mạt. Chủ nghĩa bành trướng của RỢ HÁN vói tay đến tận cả lục địa đen Phi Châu.

V. TRUNG CỘNG, TÊN THỰC DÂN MỚI TẠI PHI CHÂU:

Chủ nghĩa THỰC DÂN MỚI mà Trung Cộng đang áp dụng tại lục địa Phi Châu khác với dạng thức Thực Dân Cũ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… vào thế kỷ thứ 19 và 20. Trung Cộng tỏ ra khôn ngoan, quỷ quyệt, thâm độc hơn, biết che dấu tham vọng của mình, không tỏ ra quá lộ liễu trắng trợn là dùng vũ lực đi xâm chiếm các nước yếu trong tình trạng kém mở mang, để bốc lột dân bản xứ, vơ vét đến cạn kiệt tài nguyên của những xứ nầy hoặc dùng vũ lực trấn áp các phong trào nỗi dậy mà dân Việt Nam đã quá thừa kinh nghiệm đối phó với Thực dân Pháp trước đây.

Thực Dân Mới Trung Cộng đổ bộ vào Phi Châu bằng QUYỀN LỰC MỀM (soft power) với bộ mặt đạo đức giả là núp bóng dưới chiêu bài “nhân đạo” để thực hiện chánh sách thực dân mới bằng những mô thức chúng đã thử nghiệm thành công rực rỡ tại nước VNCS:

•           Dùng tiền bạc mua chuộc nhằm đánh gục sức kháng cự của tập đoàn lãnh đạo nhà nước.

•           Hào phóng xóa bỏ hơn 150 khoản nợ trị giá hàng tỉ Mỹ kim cho 32 quốc gia Phi Châu.

•           Cung cấp tiền viện trợ để thực hiện những dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở như hệ thống giao thông, nông nghiệp, công nghiệp và đặc biệt là năng lượng để tạo cơ hội thật tốt cho giới chức lãnh đạo tha hồ bòn rút, tham nhũng.

•           Khi giới lãnh đạo càng ngày càng lún sâu vào tham nhũng trở thành những tay “triệu phú đô la”, muốn bảo vệ tài sản kết sù nầy không gì hơn là củng cố quyền lực thống trị để tiếp tục thu lợi nhuận và giao hết quyền lợi đất nước cho tên Thực dân mới Trung Cộng, rồi từ lệ thuộc kinh tế đến hoàn toàn lệ thuộc chánh trị chỉ là một khoảng cách ngắn. Nhằm xây dựng quyền lực khống chế quốc gia thuộc địa, Trung Cộng thường dùng những chiêu độc như sau:

* Đầu tư giúp quốc gia thuộc địa khai thác, sản xuất nguyên vật liệu đặc biệt là dầu hỏa, quặng mỏ… bất kể TÁC HẠI MÔI SINH, gây thảm họa cho dân tộc đó về lâu về dài sau nầy.

* Chiếm độc quyền cung cấp kỷ thuật công nghệ cao rẻ tiền, kém chất lượng.

* Đem lực lượng lao động từ Hoa Lục sang các nước thuộc mới chiếm được, để vừa khai thác tài nguyên, vừa lai giống với dân địa phương. Những công nhân người Hoa nầy sống tập trung thành từng vùng rộng lớn, tự quản lý lấy nhau, chánh quyền địa phương không được quyền can thiệp, họ chuẩn bị sách lược bám trụ lâu dài chờ thời cơ…

* Ồ ạt di dân vào Châu Phi hơn 1 triệu người Hoa: Ở Algeria khoảng 50.000, Angola lên tới hơn 100.000, Nigeria người Tàu nhiều hơn so với người Anh trong thời kỳ thuộc địa.

VI. NHỮNG THỦ ĐOẠN BẤT LƯƠNG CỦA THỰC DÂN MỚI TRUNG CỘNG Ở PHI CHÂU BẤT CHẤP ĐẠO LY:

ANGOLA:

Lục địa Phi Châu nói chung và AGOLA nói riêng, tiềm tàng nhiều nguyên vật liệu chưa được khai thác. Do nhu cầu sinh tử, Trung Cộng đã bắt đầu dòm ngó đến nguồn tài nguyên của các quốc gia kém mở mang Châu Phi. Tại Angola, kể từ năm 2002, cuộc nội chiến được xem như là đã chấm dứt, chánh quyền được gọi là dân chủ trá hình; thật ra, là chánh quyền độc tài dưới sự lãnh đạo của MPLA, người dân Angola lại thêm một lần nữa bị tước đoạt quyền tự do, nhân phẩm con người bị chà đạp, vì vậy, các nước Tây Phương không chú ý đến vùng đất nầy và không muốn làm ăn với một thể chế độc tài, tham nhũng, thối nát. Chính quyền LUANDA liền mở cửa đón mời Trung Cộng – một con hổ đói khoát bộ da con cừu – Trung Cộng lập tức chi ra 5 tỉ Mỹ kim cho Luanda vay không điều kiện. Đổi lại, nhà nước Luanda dành độc quyền cho các nhà thầu Trung Cộng đầu tư các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở như giao thông, cầu đường, trường học, bệnh viện bằng những vật liệu tồi, kém chất lượng.  Người dân Angola than phiền rằng: “Chỉ cần một cơn mưa lớn, đường nhựa do Trung Cộng làm đã bị nước cuốn trôi hết…”

TDM Trung Cộng chỉ đặc biệt quan tâm đến việc khai thác dầu khí ngoài biển sâu Angola mà thôi. Công ty Sonangol Sinopec International, chi nhánh của China Petroleum & Chemical Corp (Sinopec) và khi Sinopec nhảy vào, tăng lượng dầu hút lên thêm 18% (72.520 barrel) mỗi ngày. Hiện nay, mỗi ngày 40% lượng dầu hút lên 2 triệu thùng/ ngày của Angola chảy vào Hoa Lục. Angola là nơi cung cấp 16% trong tổng sản lượng dầu nhập cảng của Trung Cộng.

SUDAN:

Sản lượng bình quân của Sudan là 536.000 barrel / ngày, theo ước lượng của Cơ quan năng lượng Quốc tế tại Paris là 750.000 / ngày và trên một diện tích 1 triệu km2 của Sudan chứa một trử lượng ước tính khoảng 5 tỉ thùng. Phần lớn số dầu nầy bán cho Trung Cộng là 64%. Tập đoàn dầu khí Trung Cộng là Greater Nile Petroleum Operating Company (CNPC) đầu tư hàng tỉ mỹ kim liên quan đến dầu lửa ở vùng Paloich phía Nam Sudan, trong đó còn có 900 dặm ống dẫn dầu đến các tàu dầu neo tại cảng Sudan. Ngoài dầu hỏa, Trung Cộng không đầu tư vào lãnh vực nào khác. Người dân địa phương sống trong những túp lều xiêu vẹo, trẻ em không được đến trường. Người dân địa phương đổ lổi cho người Tàu đuổi chúng tôi đi, để chúng tôi không nhìn thấy những gì đang diễn ra ở đây. Theo lời của mục sư Abraham Thonchol: “Dầu lửa có giá trị lớn và chúng tôi không là những thằng ngốc…”

Nhà hoạt đông xã hội tên ERIC REEVES – giáo sư trường Đại học Smith, tiểu bang Massachuset –  đã khẳng định rằng, người Tàu đã trợ giúp trực tiếp cho lực lượng võ trang quân đội Khartoum để chúng đốt phá làng mạc, xua duổi người dân bản xứ ra khỏi căn lều của họ và hủy hoại môi trường thiên nhiên để khai thác các mỏ dầu lửa.

Ông Martin Buywomo, Thị trưởng Paloich nói: “Người Hoa không quan tâm đến chúng tôi, mối quan tâm duy nhất của họ là những gì thuộc về họ. Họ không có liên lạc gì và chưa bao giờ tới căn lều của tôi để chào hỏi. Họ nghĩ chúng tôi là hạng người hèn kém,” rồi ông nói tiếp với giọng buồn bã. “Chúng tôi nhìn thấy họ trên xe tải của họ, nhưng họ lờ chúng tôi đi. Nếu họ nhìn thấy chúng tôi đang chết dần bên đường, họ cũng sẽ lờ đi.”. Ông Buywomo sắp xếp lại những bông hồng bằng nhựa của Trung Cộng trên bàn, ông nói: “Cái này lại hoàn toàn là CHỦ NGHĨA THỰC DÂN thêm một lần nữa! Tại Sudan, Trung Cộng chỉ nhắm vào những giếng dầu, đâu phải đem vào những gì dân chúng nước Sudan cần!”

ZIMBABWE:

Tại miền Nam Châu Phi, Zimbabwe là một trong những nước sản xuất đồng lớn nhất thế giới. Trung Cộng là khách hàng lớn nhất của Zambia. Bắc Kinh đã xóa bỏ một khoảng nợ 8 triệu mỹ kim và đầu tư khoảng 800 triệu mỹ kim vào nước này để khai thác các mỏ đồng và hứa sẽ cung cấp hàng chục ngàn việc làm cho dân bản xứ.

Nhưng, trong thời vận động tranh cử vào ngày 28/9/ 2005, ứng cử viên Tổng thống Michel Sata đã lôi vấn đề thiếu an toàn tại các khu mỏ của Trung Cộng làm cho 50 công nhân mỏ Zambia thiệt mạng trong vụ nổ năm đó. Ông Sata nổi giận về điều mà ông gọi là sự cướp bóc nguồn khoáng sản giàu có của quốc gia và không thèm đếm xỉa gì đến tác hại của môi trường. Ông Sata hứa sẽ tống cổ bọn Trung Cộng đi và công nhận Đài Loan nếu ông thắng cử. Ông đã thất cử vì có bàn tay nhám nhúa của Trung Cộng thọc tay vào cuộc bầu cử nầy.

Ông TREVOR NCUBE – chủ tờ báo Zimbabwe Standard – cảnh báo rằng: “Liệu làm ăn với Trung Cộng, có phải đơn giản là tráo đổi một tay THỰC DÂN GIÀ của chúng ta để lấy một tên THỰC DÂN MỚI?” (Zambabwe là cựu thuộc địa của Anh).

NIGERIA:

Tháng 7/ 2006, Petro China ký hợp đồng trị giá 800 triệu mỹ kim với Tổ hợp dầu hỏa Quốc gia Nigeria để mua 30.000 thùng dầu/ ngày trong một năm. Tổ hợp khai thác dầu hỏa ngoài biển của Trung Cộng (CNOOC) đã mua 45% dầu thô trị giá 2.27 tỉ mỹ kim và hứa sẽ đầu tư thêm 2.25 tỉ mỹ kim.

NAM PHI, GUINEA, CONGO… thì trở thành nguồn cung cấp kim loại quí, quăng sắt, gỗ cho Hoa Lục. Người ta tính cứ 10 cây gỗ bị đốn ở Châu Phi thì có đến 7 cây chở sang Hoa Lục. Trung Cộng mua tận gốc tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu mỏ với giá rẻ mạt mà không cần thông qua các trung gian tại Thị trường Nguyên liệu London (LME) là cơ quan thường áp đặt giá cả khoáng sản cho thế giới.

THỦ ĐOẠN KINH DOANH BẨN THỈU CỦA TRUNG CỘNG Ở PHI CHÂU:

Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh nói với các lãnh đạo các quốc gia Châu Phi rằng: “Chúng tôi không nói với các bạn rằng, các bạn cần phải làm gì và quản lý đất nước ra sao, cũng không đề cập đến NHÂN QUYỀN mà chỉ làm sao để hai bên cùng có lợi.”

Vì vậy, Trung Cộng không tiếc lời ca tụng dành cho những tên lãnh tụ độc tài ở Sudan là Omar al-Bassir, người đang bị tòa án Quốc tế HAGUE truy nã về tội ác diệt chủng khoảng 250.000 thường dân vô tội.

Tại Guinea, Trung Cộng thỏa thuận khai thác quặng mỏ trị giá 7 tỉ Mỹ kim với chế độ độc tài quân phiệt Guinea tàn bạo đang bị thế giới cô lập vì binh lính đã nổ súng vào những người biểu tình làm 157 người thiệt mạng và hãm hiếp phụ nữ trước mặt công chúng. Trung Cộng bị quốc tế phê phán về thủ đoạn kinh doanh bẩn thỉu, bất lương tại khu vực Darfur Sudan, nơi đang xảy ra tệ nạn diệt chủng bởi chánh quyền độc tài.                                                                      

VII. THÀNH TỰU VỀ KHOA HỌC KỶ THUẬT – GIÁO DỤC – QUÂN SỰ – KINH TẾ GIỮA HOA KỲ & TRUNG CỘNG:

KHOA HỌC KỶ THUẬT:

Hằng năm Học viện Hoàng Gia về Khoa Học của Thụy Điển (ROYAL SWEDISH ACADEMY) có trao tặng giải NOBEL cho các khoa học gia nhằm vinh danh nhưng thành tựu hay những công trình nghiên đặc biệt trên mọi lãnh vực có tầm ảnh hưởng đến nhân loại. Trong 829 giải Nobel đã được trao tặng đến nay. Trung Cộng với dân số 1 tỉ 400 triệu dân giành được vỏn vẹn 6 giải, thua cả Nam Phi vừa mới giành được độc lập không lâu cũng nhận được 9 giải, Bỉ quốc 10 giải, Thụy Sĩ 26 giải. Trong cuộc thi đua về trí tuệ, óc sáng tạo, còn lâu Trung Cộng mới đuổi kịp hai quốc gia đang dẫn đầu thế giới là Hoa Kỳ với 320 giải và Anh Quốc giành được 117 giải Nobel. Ấn Độ đã đóng góp cho thế giới nhiều nhân tài xuất chúng đoạt giải Nobel như: Homi Baba, Chandrasekhar, Khonara, Raman, Tagore và thiên tài lỗi lạc nhất thế giới về toán học Ramannujan. Ngày nay, Ấn Độ với 1 tỉ 1 triệu dân là quốc gia theo chế độ QUỐC GIA DÂN CHỦ ĐẠI NGHỊ lớn nhất thế giới, đang âm thầm trỗi dậy mạnh mẽ, hoàn toàn không có tham vọng xâm lăng các lâng bang để bành trướng lãnh thổ như Trung Cộng.

Giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoàng Gia Thụy Điển trao tặng cho ông Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến đang bị nhà cầm quyền Trung Cộng cầm tù vì ông cho thấy chánh sách ngoại giao dựa trên sức mạnh của Trung Cộng không hiệu quả và sẽ còn phải chịu sức ép mới. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng vội vã phản đối, cho rằng: “Trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba là đi ngược lại nguyên tắc của giải Nobel.” Tờ báo New York Times số ra ngày 8/ 10/ 2010 viết: “Trao giải thưởng cho ông Lưu, Ủy Ban Nobel Na Uy đã đập lại một cách không nhầm lẫn các nhà lãnh đạo độc đoán tại Bắc Kinh vào đúng thời điểm chính quyền nầy, ngày càng không muốn dung túng bất đồng chính kiến từ trong nước,” tờ báo nầy cũng ghi nhận. “Thái độ khó chịu lan rộng cả thế giới về chánh sách ngoại giao “nắm đấm” đi cùng sức mạnh kinh tế đang lên của Trung Cộng.”

Nếu như có giải Nobel nào vinh danh về HÀNG GIẢ – HÀNG NHÁI hoặc SAO CHÉP BẢN QUYỀN ăn cắp phát minh khoa học của người khác, chắc chằn Trung Cộng sẽ chiếm giải quán quân…Một cuộc điều tra của Tân Hoa Xã công bố cho thấy, riêng trong năm 2009, thị trường viết thuê các công trình khoa học ma ở Hoa Lục đã vượt mức 1 tỉ nhân tệ, trong lúc nước này bàn luận chưa có giải Nobel nào về tay Trung Cộng.

Shirong Chen – biên tập viên BBC – nói: “Tệ nạn lừa đảo giáo dục vẫn diễn ra bất chấp cố gắng giải quyết tệ nạn nầy cũa chánh phủ. Trung Cộng rất tự hào với vị trí của họ trên thế giới. Nhưng, điều tra mới nhất cho thấy, họ còn khoảng cách dài so với các nước khác trong vấn đề khoa bảng.” Sự thua sút nầy của Trung Cộng là do phẩm chất kém cỏi của ngành GIÁO DỤC mà ra.

GIÁO DỤC:

Quốc gia nào trên thế giới đều có trường đại học, nơi đào tạo nhân tài để phục vụ đất nước. Hệ thống trường đại học tại Hoa Kỳ luôn luôn đứng đầu thề giới về phẩm và lượng trong suốt nhiều thập niên qua. Những trường đại học lừng danh ở Hoa Kỳ vẫn là những ước mơ cho sinh viên thế giới nói chung và cho Trung Cộng nói riêng được theo học những trường nầy như: HARVARD, MIT (Massachusetts Institute of Technology), VT (Viginia Tech), CALTECH (California Institute of Technology), Princeton, Columbia…Ở Anh Quốc có những trường đại học tiếng tăm lừng lẫy như CAMBRIDGE & OXFORD. Ơû Pháp Có trường ĐẠI HỌC PARIS, SORBONNE rất nỗi tiếng. Nhật có trường ĐẠI HỌC TOKYO…còn trường ĐẠI HỌC BẮC KINH đứng hàng đầu ở Hoa Lục chỉ đứng hàng 151 thế giới (dựa theo bảng xếp hạng của JIAOTONG UNIVERSITY). Ngoài ra, các trường đại học tại Hoa Kỳ, mỗi năm thu nhận khoảng 670.000 sinh viên du học đến từ khắp năm châu, trong số nầy có cả sinh viên Hoa Lục, nhưng sau khi tốt nghiệp, họ đều muốn ở lại Hoa Kỳ để tìm con đường tiến thân hơn là trở lại Hoa Lục. Vì vậy có thể nói, Hoa Kỳ là vựa chất xám của nhân loại.

Theo nhật báo Figaro tại Bắc Kinh nói về Tiến sĩ Phương Thị Dân, 42 tuổi, người lập ra trang Web chuyên tố cáo những người sử dụng bằng cấp giả tại Hoa Lục và đã đưa ra ánh sáng hàng ngàn vụ, mà bản thân ông đã phát hiện hàng trăm vụ sử dụng bằng cấp giả ở nước nầy. Ông suýt mất mạng vì dám bật mí “bí mật quốc gia”.

KHOA HỌC QUÂN SỰ:

Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ vào năm 1991, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới vào cuối thế kỷ XX. Thập niên đầu của thế kỷ thứ XXI, Trung Cộng trổi dậy mạnh mẽ và mạo hiểm theo đuổi chánh sách trở thành một siêu cường thay thế vị trí Liên Xô tại vùng Biển Đông để đối đầu với Hoa Kỳ.

HỌC THUYẾT HẢI LỰC CỦA ALFRED MAHAN:

Theo học thuyết của Alfred Mahan – giáo sư của trường Đại học NAVAL WAR COLLEGE của Hoa Kỳ – viết trong tác phẩm “THE INFLUENCE OF SEA POWER UPON HISTORY: 1660 – 1783” xuất bản 1890. Cuốn sách nầy nhanh chóng trở thành một học thuyết dưới tên gọi “HỌC THUYẾT MAHAN” của các nhà chiến lược Hoa Kỳ và Trung Cộng nghiên cứu và áp dụng. Nét chính trong học thuyết Mahan: “Sức mạnh hải lực của mỗi quốc gia là yếu tố hàng đầu trong việc bang giao quốc tế.” Việc phát triển sức mạnh của hải lực, dựa trên 3 yếu tố chính như sau:

•           Chiến hạm lớn, pháo hạm mạnh và có hệ thống căn cứ tiếp vận.

•           Một đội thương thuyền được bảo vệ và giám sát chặc chẻ bởi những chiến hạm nầy khi di chuyển trên khắp đại dương.

•           Những căn cứ tiếp vận trên biển đảo hoặc trên đất liền, phải được bảo vệ bởi các quốc gia đồng minh.

Theo quan điểm của Dr ALICE LYMAN MILLER – giáo sư HỌC VIỆN CAO HỌC HẢI QUÂN HOA KỲ – muốn lãnh đạo thế giới, siêu cường phải có sức mạnh vượt trội, có khả năng can thiệp bất cứ nơi nào trên thế giới và nhiều khu vực khác nhau cùng một lúc để đem lại sự tin tưởng cho các quốc gia đồng minh.

Quan niệm sức mạnh trên đại dương của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi học thuyết của Mahan và quan niệm của Miller. Và phương thức để đạt được mục đích nầy là HÀNG KHÔNG MẪU HẠM (aircraft carier). Hiện nay trên thế giới có 21 HKMH được chia ra như sau: 11 của Hoa Kỳ, 02 của Anh Quốc, 02 của Ý, 01 của Nga, 01 của Ấn Độ, 01 của Pháp, 01 của Tây Ban Nha, 01 của Thái Lan và 01 của Brazile. Mỗi chiếc HKMH của Hoa Kỳ có thể mang từ 90 tới 100 chiến đấu cơ & trực thăng và có thể hoạt động liên tục, không giới hạn thời gian trên đại dương. Để yểm trợ cho các hoạt của những HKMH có mặt trên khắp các đại dương, Hoa Kỳ có những chuổi căn cứ tiếp vận trên lãnh thổ các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ từ Nam Mỹ đến Châu Âu, Phi Châu, Trung Đông, Nam Á, Đông Nam Á và Bắc Á Châu…

Còn Trung Cộng hiện có bao nhiêu HKMH trên Biển Đông? Việc nầy còn phải chờ đến năm 2015, mới có thể hy vọng hoàn thành 02 HKMH made in China. Hiện nay, Trung Cộng đang cố gắng tân trang một tàu sân bay đã phế thải của Nga tên Varyag để biến nó thành HKMH đầu tiên của Trung Cộng dùng nó để…huấn luyện cho phi công tập đáp hoặc cất cánh từ HKMH; ngoài ra, còn phải lo chế tạo một loại phi cơ thích ứng với đường bay ngắn để trang bị cho tàu sân bay, ít ra đến cuối thập niên tới, Trung Cộng mới đủ sức vươn mình ra đại dương. Trong khi Trung Cộng vất vả trong việc đóng HKMH để phát triển hải lực nhằm áp lực và HÙ DỌA các nước thuộc khu vực ĐNÁ được thêm dễ dàng trong các cuộc đàm phán, hơn là đối đầu với Hoa Kỳ và đồng minh tại Biển Đông. Nhưng, nay tình thế đã đổi khác…

CHIẾN LƯỢC BIỂN MỚI CỦA HOA KỲ:

HỌC THUYẾT HẢI LỰC DONITZ:

Theo học thuyết của DONITZ (Đô đốc Đức Quốc Xã): Trong thế chiến thứ II, ông áp dụng chiến thuật U-BOAT là tổ chức những chiến hạm và tàu ngầm của Đức thành từng đoàn được mệnh là những đoàn sói xám trên đại dương có nhiệm theo dõi, bám sát các chiến hạm hoặc thương thuyền của Hoa Kỳ và đồng minh đang di chuyển trên biển, chờ thời cơ thuận tiện, đồng loạt tập trung hỏa lực, bất ngờ tấn công chớp nháng, gây tổn thất nặng nề cho địch, rồi nhanh chóng biến mất trên mặt biển không để lại dấu vết…

Học thuyết nầy đang được Hoa Kỳ hoàn chỉnh và thử nghiệm thành công trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh trước đây và săn đuổi bọn hải tặc trên vùng biển Somalia bằng cách cho ra đời loại “SIÊU TỐC HẠM” mang tên USS INDEPENDENCE thuộc loại “Littoral Combat Ship” (LCS). Với vận tốc trung bình 77 km/giờ và khi săn đuổi hoặc tấn công có thể đạt tới vận tốc 110 km/giờ. LCS có thể chứa loại phản lực cơ lên thẳng V/STOL và loại trực thăng khổng lồ CH53. Ngoài ra, LCS còn được trang bị hỏa lực hùng hậu với hải pháo nòng dài 127 ly và đủ loại hỏa tiển “hải – hải”, “hải – không” và chống tàu ngầm. LCS còn có tầm đáy nông có thể dùng cho các cuộc hành quân đổ bộ. Hải quân Hoa Kỳ dự trù đóng thêm 55 chiếc LSC trong thập niên tới. Giá mỗi chiếc LCS rất rẻ, khoảng 208 triệu Mỹ kim. Nếu chiến tranh Biển Đông bùng nổ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng thì những chiếc siêu tốc hạm USS INDEPENDENCE trở thành những đoàn “cọp biển” khắc tinh của những tàu dầu khổng lồ của Trung Cộng làm sao đi trót lọt qua eo biển Malacca một cách dễ dàng?

Ngoài ra, quân vận đỉnh khổng lồ loại mới nhất mang tên M80 STILETTO tốc độ cao dùng để đổ quân, tàu có khả năng hoạt động gần bờ biển nông, dùng để tấn công các chuổi căn cứ để bảo vệ hàng hải, chuyển vận năng lượng từ Trung Đông về Hoa Lục như căn cứ Chittagon tại Bangadesch, Gwadar tại Pakistan…Hoa Kỳ còn thủ đắc một loại vũ khí ghê gớm là LASER WEAPON SYSTEM (LAWS) cuộc thí nghiệm diễn ra trên đảo San Nicholas ngoài khơi Cali thành công mỹ mãn, dùng tia sáng laser hạ máy bay địch hoặc tàu chiến của địch.

Theo Daytondailynews, Không quân Hoa Kỳ hiện được trang bị 144 chiến đấu cơ tàng hình F-22A RAPTOR tối tân nhất và tới đầu năm 2012 sẽ nâng tổng số lên đến 187 chiếc. Ngoài ra, máy bay ném bom chiến lược B-2 được đưa tới GUAM sẵn sàng hành động. Theo Defense ngày 15/3/ 2011 đưa tin, Hoa Kỳ vừa công bố dự án sẽ mua 680 phản lực tiêm kích Lockheed Martin F-35B và F-35C Lightning II có khả năng cất và hạ cánh thẳng đứng cho Hải quân và binh chủng TQLC Hoa Kỳ vào cuối năm 2016.

Hiện nay, Hoa Kỳ có 20 chiếc phi cơ ném bom tàng hình chiến lược B-2 SPIRIT do hảng Norththrop Grumman chế tạo với khả năng xâm nhập vào lãnh thổ địch với hệ thống phòng không dầy đặc. Trị giá mỗi chiếc B-2 Spirit chỉ có 1 tỉ USD.

TÀU NGẦM NGUYÊN TỬ TRUNG CỘNG SẼ LỔI THỜI:

Theo tạp chí Jane’s Intelligence Review cho biết qua không ảnh: Trung Cộng đang thiết lập một căn cứ tàu ngầm nguyên tử khổng lồ tại YULIN (Sanya) phía cực nam đảo Hải Nam, có ít nhất 14 cửa với bề ngang 16 mét. Hai cầu tàu dài và nhiều cầu tàu ngắn có khả năng làm chỗ neo cho hai đội HKMH (trong tương lai). Không ảnh cho thấy một chiếc tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn loại 094 (JIN-CLASS), mỗi chiếc trang bị 12 hỏa tiển JL-2 mang đầu đạn nguyên tử, có tầm bắn xa từ 7.200 đến 8.000 km. BQP Hoa Kỳ cho biết Trung Cộng sẽ có thêm 5 chiếc tàu ngầm loại nầy vào năm 2010.

Trong khi Trung Cộng đang hì hục lo đóng thêm tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiển loại 094 để chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ và Tây Phương; thì nay, đối với Hoa kỳ nó đã lổi thời rồi, chẳng còn hù dọa được ai. Hải Quân Anh vừa chánh thức đưa vào sử dụng loại tiềm thủy đỉnh nguyên tử thuộc thế hệ mới, tối tân nhất, có hỏa lực mạnh nhất, khả năng hải chiến cao hơn gấp rưởi so với bất cứ loại tiềm thủy đỉnh nguyên tử của nước nầy nói riêng và thế giới nói chung. Đó là chiếc tiềm thủy đỉnh nguyên tử tấn công HMS ASTUTE thuộc thế hệ mới đầu tiên…HMS ASTUTE với chiều dài 100 mét, ngang 11,30 mét, trọng tải 7.400 tấn, hoạt động đơn độc 90 ngày đêm, lặn sâu 300 mét và 100 thủy thủ đoàn. Tốc độ của tàu chưa tiết lộ.

HMS ASTUTE là chiếc tiềm thủy đỉnh đầu tiên trên thế giới có khả năng tàng hình. Tàu được trang bị 38 ngư lôi Sparfish để chống chiến hạm nổi và tàu ngầm, tên lửa chống chiến hạm UMG-84 và tên lửa Tomahawk dùng để tấn công các mục tiêu trên đất liền. Nhờ có 39.000 tấm cách âm bọc quanh nên tàu không bị phát hiện và đặc biệt HMS ASTUTE có trang bị hệ thống dò tiềm thủy đỉnh SONAR 2076, có khả năng phát hiện mục tiêu cách xa 5.500 km và đây cũng là chiếc tiềm thủy đỉnh đầu tiên thế giới không sử dụng kính ngắm truyền thống mà thay vào đó bằng hệ thống quang học điện tử để thu thập hình ảnh 360 độ. HMS ASTUTE có thể hoạt động trong đội hình hạm đội hoặc độc lập trong 25 năm liền mà không cần tiếp tế nhiên liệu. Tàu chỉ nổi lên mặt nước mỗi khi cần tiếp tế lương thực.

Giá thành mỗi chiếc HMS ASTUTE khoảng 4 tỉ bảng Anh, trong khi ngân sách quốc phòng của Anh chỉ có 38 tỉ. Những phát minh về koa học quân sự của Anh Quốc trước sau gì cũng chuyển giao cho đồng minh Hoa Kỳ. Với ngân sách quốc phòng khổng lồ khoảng 700 tỉ mỹ kim mỗi năm, lớn bằng tổng số ngân sách quốc phòng của các nước trên thế giới cộng lại. Hoa Kỳ dư khả năng đóng cả một hạm đội tàu ngầm HMS ASTUTE.

VIII. NỀN KINH TẾ HOA LỤC HIỆN NAY RA SAO?

Những tin tức gần đây cho biết tổng sản lượng GDP của Trung Cộng đã vượt lên hàng thứ hai trên thế giới và đã qua mặt Nhật Bản. Nhưng, nếu tính GDP/ đầu người dân Tàu với dân số 1 tỉ 300 triêu, có khoảng 600 triệu người chỉ làm được từ 1 đến 2 mỹ kim / ngày; tức 750 mỹ kim / năm. Nếu đem chia đều ra cả nước thì GDP của Trung Cộng khoảng 7.8 trillions, bình quân mỗi đầu người được 6.000 mỹ kim/ năm, so với Hoa Kỳ 47.000 mỹ kim, Đức 34.800 mỹ kim, Úc 38.000 mỹ kim, Thái Lan 8.500 mỹ kim, Việt Nam 2.800 mỹ kim. Xem ra, Trung Cộng còn kém cả Thái Lan.

Vì vậy, theo Tiến sĩ Derek Scisors – Kinh tế gia chuyên về Châu Á – cho rằng sai lầm khi nhận định Trung Cộng có thể vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng 10 năm tới, mà sự thật có những bằng chứng cho thấy, kinh tế Trung Cộng sẽ chẳng bao giờ vượt qua kinh tế Hoa Kỳ. Thật vậy, những bằng chứng cho thấy những thủ đoạn gian lận về kinh tế và thương mại của Trung Cộng càng ngày càng gia tăng qua những sản phẩm MADE IN CHINA kém chất lượng bị thế giới tẩy chay. Vài thí dụ điển hình:

•           Thực phẩm như sửa, bánh kẹo có hàm lượng mélanine cao có hại cho sức khỏe và được sản xuất trong một môi trường thiếu vệ sinh tối thiểu.

•           Trái cây được tẩm những hóa chất độc hại để bảo quản lâu hư thối.

•           Đồ chơi trẻ con được sơn bởi những loại nước sơn dễ gây bệnh tật cho trẻ em.

•           Hàng công nghệ hào nhoáng, mẫu mã đẹp lại rẽ tiền, nhưng mau hư hỏng vì làm bằng những chất liệu kém.

•           Thuốc giả tràn lan khắp nơi trên thế giới nhất là tại những nước nghèo như tại Phi Châu bất chấp nhân đạo.

•           Vật liệu xây cất dễ cháy nhà, gây mầm ung thư…

•           Lực lượng công nhân làm trong các hảng xưởng bị chủ nhân bốc lột tàn tệ, họ chấp nhận mức lương tối thiểu để sống, còn hơn đổ mồ hôi ở đồng ruộng mà không đủ ăn…

Tổng hợp các sự kiện về chính trị, khoa học, giáo dục, quân sự, kinh tế…kể trên đã cho chúng ta thấy: tên Thực Dân Mới Trung Cộng chỉ là “CON CỌP GIẤY” không có gì đáng sợ nó cả. Và đây là câu trả lời dành cho câu hỏi của ông Evan S. Mederios để thay cho lời kết: “GIVING UP THE ILLUSION OF BEIJING GLOBAL LEADERSHIP!” (Hãy từ bỏ ảo tưởng Bắc Kinh lãnh đạo thế giới!).

                                        Nguyễn Vĩnh Long Hồ

Advertisements