# Đảng Cộng Sản Việt Nam Là Một Lũ Hại Dân – Cơ Hội Chót

Posted on Tháng Mười Hai 9, 2011

0


# Đảng Cộng Sản Việt Nam Là Một Lũ Hại Dân – Cơ Hội Chót

Mylinhng@aol.com

Bản Dự Thảo Hiệp Ước Thương Mại Song Phương (Bilateral Trade Agreement) giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, hai bên đã thương thuyết từ 1997 và được hoàn tất vào 1999, dự trù Phan Văn Khải sẽ ký kết với Clinton khi Khải sang Tân Tây Lan họp Hội Nghị APEC vào tháng 9 năm 1999. Việc ký kết này là điều kiện căn bản để Việt Nam có thể gia nhập vào WTO, lẽ dĩ nhiên trước Tàu Cộng. Đến giờ chót, tên hại dân Đỗ Mười đã nhận chỉ thị của Tàu, chận đứng lại việc ký kết. Đau đớn thay, chỉ vài tuần sau, Tàu ký kết thương ước với Hoa Kỳ, và gia nhập WTO vào đầu năm 2001. Đây là một cơ hội đau thương bị lỡ dịp, Tàu vào WTO trước, các công ty lớn của Hoa Kỳ và thế giới tràn vào Tàu đầu tư vì gía lao động rẻ và vì không có những chính sách bảo vệ môi trường rõ rệt. Hôm nay, chúng ta lại thấy những lời tiết lộ “bí mật quốc gia” của cựu Đại Sứ Lê Văn Bàng (*1) về những cơ hội bị lỡ dịp. Than ôi, một đám cầm quyền ngu dốt hại dân, không xem trọng quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

Hiện tại đám cầm quyền Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang lại đang đứng trước ngã ba đường, một cơ hội nữa lại có thể bị lỡ dịp. Thế đu dây giữa Hoa Kỳ và Tàu đã chấm dứt khi bà Clinton đưa ra điều kiện Nhân Quyền nếu Trương Tấn Sang muốn Hoa Kỳ và Việt Nam tiến tới cấp quan hệ về an ninh và quốc phòng cao hơn mức bình thường (ẩn ý là Hoa Kỳ sẽ bảo vệ VN nếu trường hợp bị Tàu tấn công). Đây là cơ hội cuối cùng cho những tên cộng sản độc tài như Dũng và Sang, nếu thật sự muốn dân chủ hóa đất nước, hãy chấp nhận điều kiện Nhân Quyền của Hoa Kỳ. Đứng trước trào lưu lật đổ các chế độ độc tài đòi quyền tự do dân chủ của cả thế giới, nhất là việc sụp đổ của chế độ độc tài tại Lybia và trước cái chết của Ghadafi với bộ mặt đẫm máu, không riêng gì Dũng và Sang, mà hầu hết tất cả những tên trong Bộ Chính Trị, cùng các tướng lãnh công an lẫn bộ đội, đều phải đang lo lắng cho số phận của chính cá nhân và gia đình của mình. Điều này khẳng định cho một cuộc cách mạng phải xảy ra trong một thời gian rất ngắn, có thể chỉ vài tháng, có thể là một cuộc đảo chánh và có thể là một cuộc đứng dậy của toàn dân. Cả 2 giải pháp này đều giải thể chế độ độc tài cộng sản và xây dựng một thể chế dân chủ tại Việt Nam

Riêng tất cả các tổ chức, đảng phái, đấu tranh đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam, đây cũng là một cơ hội, phải tận dụng tất cả khả năng, sức mạnh giành lại quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam.

Ngày 9 tháng 12 năm 2011
Mylinhng@aol.com
https://mylinhng.wordpress.com
Xin phổ biến tự do

PS:
(*1):

http://diemtinvn.blogspot.com/2011/12/oi-hoi-qua-gang-viet-nam-lo-nhieu-dip.html#more

Ðòi hỏi quá găng, Việt Nam lỡ nhiều dịp bang giao với Mỹ

 
Cựu đại sứ Việt Nam Lê Văn Bàng thú nhận
HÀ NỘI (NV) – Nhất định buộc Mỹ phải bồi thường chiến tranh rồi mới chịu thiết lập bang giao. Mỹ không chịu. Tới khi muốn quá, nài nỉ xin được bang giao vô điều kiện thì bị lờ đi vì nước Mỹ có những tính toán khác.

Cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn Lê Văn Bàng. (Hình: Tuần Việt Nam)

Ðây là những điều được ông Lê Văn Bàng, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn sau lên làm thứ trưởng Ngoại Giao, nghỉ hưu năm 2010, kể lại qua cuộc phỏng vấn của ký giả Huỳnh Phan trên báo điện tử Tuần Việt Nam.
Lỡ quá nhiều dịp vì các tính toán sai lầm của đám lãnh tụ Hà Nội cộng với hoàn cảnh của một nước nhỏ trên bàn cờ quốc tế, bởi vậy, đàm phát từ sau khi chiến tranh chấm dứt, mãi 20 năm sau Việt Nam mới thiết lập được bang giao với Mỹ.

Cuộc phỏng vấn ông Bàng được Tuần Việt Nam phổ biến trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2011. Ông là một nhà ngoại giao có cơ hội tham dự từ đầu các cuộc đàm phán cho tới khi trở thành đại sứ đầu tiên của Việt Nam ở Hoa Thịnh Ðốn.
Bắt đầu đàm phán bang giao từ năm 1977 dưới thời Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter, Lê Duẩn là tổng bí thư đảng CSVN, ông Lê Văn Bàng nhìn nhận việc Việt Nam nhất định đòi Mỹ $3.25 tỉ USD viện trợ không hoàn lại trong 5 năm và khoảng $1 tỉ USD đến $1.5 tỉ USD viện trợ lương thực và hàng hóa “không ngờ đó lại là chỗ nghẽn trong đàm phán bình thường hóa giữa Việt Nam và Mỹ.”
Phía Hà Nội “kiên quyết đòi” khi viện dẫn điều 21 của bản Hiệp Ðịnh Paris và cả công hàm Tổng Thống Nixon gửi cho Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1973 đề cập đến viện trợ. Nhưng không ngờ lại bị ông Nixon “gài” ngược bằng lời rào đón trong công hàm là viện trợ “theo những quy định của hiến pháp” của mình.
Tổng Thống J. Carter thuộc đảng Dân Chủ nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ, muốn thiết lập bang giao với Việt Nam nhưng “ông ta vấp phải một thách thức rất lớn từ phái Cộng Hòa trong Quốc Hội,” ông Bàng nói.
“Từ đầu tháng 5, 1977, khi Mỹ và Việt Nam bắt đầu đàm phán bình thường hóa ở Paris, Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu cấm bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam,” ông nói.
Sau đó, tình hình khu vực biến chuyển nhanh chóng và dồn dập.
“…nhất là sự căng thẳng với Trung Quốc, với việc cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước, và Campuchia, khi chính quyền Khmer Ðỏ đã có các cuộc xâm phạm biên giới phía Tây Nam, lên tiếng đòi xem lại vấn đề phân định lãnh thổ giữa hai nước, cũng như cắt đứt quan hệ ngoại giao”, ông nói. Cũng thời gian này, Việt Nam quyết định bám vào Nga hoàn toàn “chuẩn bị ký hiệp ước liên minh với Nga, cho phép hải quân của họ sử dụng Cam Ranh. Ðổi lại Liên Xô tăng viện trợ cho Việt Nam.” Ông nói Việt Nam chuyển hướng chiến lược nên nhu cầu đòi tái thiết từ viện trợ Mỹ “không còn quan trọng như trước nữa.”
Trước sức ép quá nóng từ phương Bắc, Hà Nội cử một phái đoàn đi Hoa Thịnh Ðốn vì “nếu không có luồng gió ôn hòa từ phía Tây thì căng lắm.”
Ông Nguyễn Cơ Thạch, lúc này là thứ trưởng Ngoại Giao, được cử đi “sang đàm phán kín với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Holbrooke, chấp nhận bình thường hóa vô điều kiện.”
Tuy nhiên, đạt được thỏa thuận với ông Holbrooke rồi, “ông Thạch chờ suốt mà không có câu trả lời từ Bộ Ngoại Giao Mỹ.” Ông Bàng kể lại rằng: “Sự nhượng bộ của Việt Nam đã quá muộn, bởi, trong thời gian đó, đã có những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, và Mỹ không thể ứng xử như cũ. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc lúc đó là ưu tiên hàng đầu của Mỹ.”
Ông Bàng xác nhận phía Việt Nam quá thèm bang giao với Mỹ đến độ cử vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ thời đó là Trần Quang Cơ sang New York từ tháng 9, 1978 và “cố chờ” câu trả lời nên ở đó đợi đến tháng 1, 1979 (gần tới lúc Việt Nam bị Trung Quốc đánh dọc 6 tỉnh biên giới), hy vọng Mỹ thỏa thuận xong với Trung Quốc thì sẽ tính tới chuyện bang giao với Việt Nam nhưng vẫn không thấy gì.
Ông Bàng cho biết phía Việt Nam đã chuẩn bị người để mở đại sứ quán “đâu vào đấy” để mở sứ quán ngay sau khi ký kết bình thường hóa.
Theo ông Bàng, Mỹ tập trung vào “con bài” Trung Quốc, “dựa trên cơ sở sự bất đồng sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc, nhằm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới giữa Mỹ và Liên Xô.” Bởi vậy, “đến thời điểm lãnh đạo Việt Nam thực sự mong muốn bình thường hóa ngay với Mỹ, phía Mỹ lại chưa muốn. Bởi, như vậy, họ khó thúc đẩy bình thường hóa và cải thiện quan hệ với Trung Quốc được.”
Ông Bàng cho rằng, trong nỗ lực thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ, “Việt Nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị ‘dập’ bất cứ lúc nào.”
Rồi đến cuối năm 1978 Việt Nam tấn công chiếm đóng Campuchia, thì “mọi mối tiếp xúc (đàm phán bang giao) hầu như bị cắt đứt,” ông nói.
Nước Mỹ tức giận nên “ngay cả vấn đề MIA/POW, một trong những lời hứa của ông Jimmy Carter với hiệp hội những gia đình có người Mỹ mất tích trong chiến tranh khi tranh cử, Mỹ cũng chẳng quan tâm nữa.”
Mãi tới khi kiệt quệ kinh tế, năm 1985 lạm phát lên tới 430% (theo tài liệu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), chế độ Hà Nội thấy không còn con đường nào khác ngoài việc “đổi mới” kinh tế để tự cứu mình khỏi thế bị bao vây, cô lập,” Mỹ mới có ý đối thoại trở lại.
Năm 1986, lạm phát Việt Nam là 453.5%, cuối năm, hai Nghị Sĩ Gary Hart và Richard Lugar đến Hà Nội, gặp ông Nguyễn Cơ Thạch.
“Hai điều kiện họ đưa ra để nối lại đàm phán bình thường hóa là giải quyết vấn đề POW/MIA và Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia.” Ông Bàng kể. Việt Nam vội vàng đồng ý nhưng “cho dù Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân vào tháng 9, 1989, đến tận năm 1991, phía Mỹ vẫn chưa tin. Họ bảo rằng biết đâu Việt Nam rút ở đầu này, nhưng lại vào Campuchia ở đầu khác.”
Nhiều nghị sĩ Mỹ cũng không tin phía Việt Nam thành thật trong việc hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Thậm chí phải đưa một phái đoàn Mỹ tới một nhà tù ở Thanh Hóa bị nghi là còn giữ tù binh Mỹ để kiểm soát.
Tới thời TT Clinton, khi Mỹ đồng ý bỏ cấm vận Việt Nam năm 1993, lại “rộ lên chuyện tài liệu Nga.” Thời gian này, vì có tin tung ra từ Nga là tù binh Mỹ được CSVN gửi sang Nga, lại còn được đại tá tình báo Nga Kalugin xác nhận. Hà Nội phải giải thích, chứng minh vất vả mãi đến năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận hoàn toàn thì năm sau mới thiết lập được bang giao.
Bây giờ, sau những bước đi chậm chạm, Việt Nam đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa gỡ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam.
Khi gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp Liên Hiệp Quốc ngày 26 tháng 9, 2011, bà ngoại trưởng Mỹ vẫn đòi hỏi Hà Nội phải cải thiện nhân quyền để hai nước có thể tiến xa hơn nữa trong mối bang giao nhiều mặt. (TN)

 
Advertisements
Posted in: Uncategorized